Tìm hiểu bệnh giun đũa chó - Sán chó

trangchu:;top:;bottom:;trai:;phai:;TrangDanhMuc:;TrangChiTiet:;Canonical:;SiteMap:;-cauhinhseo-

Bệnh giun đũa chó - Sán chó

Bệnh giun đũa chó Toxocara mà bà con thường gọi là bệnh sán chó. Tác nhân gây bệnh là Toxocara canis (giun đũa chó), Toxocara cati (giun đũa mèo).

1. Tìm hiểu bệnh giun đũa chó - sán chó

Bệnh giun đũa chó mèo hay ấu trùng di chuyển nội tạng, gây ra do sự di chuyển giai đoạn ấu trùng của giun đũa chó Toxocara canis ở nhiều cơ quan khác nhau. Khái niệm “ấu trùng di chuyển nội tạng” ám chỉ sự di chuyển trong cơ thể người của một loại ấu trùng giun sán thường sống trong cơ thể động vật, đặc biệt là các thú nuôi; trong đó Toxocara canis là phổ biến nhất, kế đến là Toxocara cati ở mèo, Ascaris suum ở heo và Toxocara vitulorum ở trâu bò.

Bệnh giun đũa chó mèo được Beaver, 1952 ghi nhận lần đầu tiên ở trẻ em có hội chứng gan và/hoặc phổi; ấu trùng Toxocara canis được tìm thấy sau khi giải phẫu tử thi, sinh thiết gan hay phổi. Bệnh biểu hiện ở mắt được ghi nhận vào khoảng năm 1950 - ấu trùng được tìm thấy trong mắt của các bệnh nhân bị viêm nội nhãn hay nghi ngờ ung thư võng mô.

Những nghiên cứu gần đây với kỹ thuật miễm dịch ELISA đã cho biết tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng này trong cộng đồng dân cư ở các nước Châu Âu là từ 0% - 13%, ở Anh là từ 2% - 5%; cho thấy mức độ ô nhiễm đáng kể.

2. Chu kỳ phát triển của giun đũa chó - sán chó

Tìm hiểu bệnh giun đũa chó - Sán chó

Chu kỳ phát triển của giun đũa chó - sán chó và quá trình lây nhiễm cho con người

Người là ký chủ ngẫu nhiên, nhiễm do nuốt trứng có ấu trùng giai đoạn 3 của Toxocara , ấu trùng xâm nhập thành ruột và được chuyên chở theo đường máu đến gan, phổi và những cơ quan khác. Ở những cơ quan này, ấu trùng lang thang hàng tuần hay hàng tháng hoặc nằm im, thành những vật lạ gây viêm và kích thích tạo u hạt thâm nhiễm bạch cầu ái toan.

Ngoài người, những loài vật khác như gậm nhấm, cừu, gà, heo, thỏ, chim, côn trùng và ngay cả giun đất cũng có thể mang ấu trùng của giun Toxocara spp. Tất cả những ký chủ này được gọi là ký chủ ngẫu nhiên, ký sinh trùng không bao giờ phát triển đến giai đoạn trưởng thành. Vì vậy, ở những người bị nhiễm không bao giờ tìm thấy trứng trong phân.

3. Đặc điểm dịch tể của giun đũa chó - Sán chó

Ở trẻ em, các hành vi nguy cơ có thể nuốt phải trứng có ấu trùng của Toxocara canis bao gồm :

Trẻ nhỏ (tuổi nhà trẻ, mẫu giáo) : Trẻ hay nghịch đất, ăn đất, ngậm liếm đồ chơi, mút tay, 30% trẻ em ở lứa tuổi này thường xuyên đưa tay vào miệng.

Trẻ em tuổi cấp I : Nghịch đất, chơi những trò chơi tiếp xúc với đất như : bắn bi, bán đồ hàng, bồng bế chó mèo.

Trẻ em tuổi cấp II : Không nghịch đất nhiều như hai nhòm trên, nhưng thường hay chơi những trò chơi tiếp xúc với đất như bắn bi, bán đồ hàng, nhảy lò cò, đá banh, bồng bế chó mèo, một số trẻ ở lứa tuổi này hay ăn hàng rong, ăn rau sống, tiếp xúc với chó mèo.

Trẻ xuất thân từ gia đình có tình trạng kinh tế và trình độ học vấn của cha mẹ hay người chăm sóc chính thấp dễ nhiễm hơn những trẻ xuất thân từ gia đình có tình trạng kinh tế và trình độ học vấn của cha mẹ hay người chăm sóc chính khá; trẻ ở nông thôn nhiễm nhiều hơn trẻ ở thành thị, do vùng nông thôn nuôi chó mèo thả rong nhiều, đất dễ ô nhiễm phân chó mèo. Tuy nhiên, nếu trẻ ở thành thị nhưng có dịp về quê ở vùng nông thôn thì khả năng nhiễm như trẻ sống ở vùng nông thôn.

Trẻ xuất thân từ gia đình khá giả, thường nuôi chó mèo nhiều, chó mèo được xem là con vật cưng, trẻ thường xuyên bồng bế, ngủ chung với chó mèo.

Ở người lớn, bệnh gặp ở mọi lứa tuổi, nhiều nhất là độ tuổi cao, tỷ lệ bệnh ở nam và nữ gần bằng nhau, bệnh gặp ở những người sống ở nông thôn nhiều hơn ở thành thị, nhiều người có trình độ học vấn thấp, tình trạng kinh tế nghèo, có những hành vi nguy cơ như tiếp xúc đất, vệ sinh cá nhân kém, tiếp xúc thường xuyên với chó mèo, nuôi chó mèo như những con vật cưng, ăn rau sống không rửa kỹ…

4. Biểu hiện lâm sàng bệnh giun đũa chó - Sán chó

Ở trẻ em bệnh biểu hiện hai hội chứng

Hội chứng ấu trùng di chuyển nội tạng và hội chứng ấu trùng di chuyển ở mắt.

Tìm hiểu bệnh giun đũa chó - Sán chó

Chu trình phát triển của giun đũa chó - sán chó và những biến chứng nguy hiểm

Hội chứng ấu trùng di chuyển nội tạng bao gồm những biểu hiện lâm sàng sau : Trẻ đi khám bệnh vì những biểu hiện:

Thần kinh như : Đau đầu, động kinh, cử động bất thường, rối loạn hành vi, yếu liệt.

Ở da như : xuất huyết da thường gặp nhiều nhất là bầm da, nổi mề đay, nổi cục u ở da, sung phù một vùng da.

Về hô hấp như : ho kéo dài, điều trị theo phác đồ thông thường không thuyên giảm, thường kèm công thức máu có bạch cầu ái toan tăng cao.

Rối loạn tiêu hóa như tiêu chảy hay đau bụng kéo dài không rõ nguyên nhân, kèm gan lá lách to, công thức máu thường có bạch cầu ái toan tăng cao.

Sốt kéo dài không rõ nguyên nhân , tất cả các xét nghiệm thông thường đều âm tính, kèm công thức máu có bạch cầu ái toan tăng cao.

Đau khớp, sốt, ói, kèm bạch cầu ái toan tăng cao.

Gầy ốm, xanh xao, mệt mỏi, chán ăn, kém tập trung.

Ở thận: hội chứng thận hư, viêm cầu thận cấp.

Một số trường hợp bệnh biểu hiện ở nhiều cơ quan khác nhau, dễ nhầm lẫn với những bệnh nội khoa khác.

Thường đa số bệnh nhân có công thức máu có bạch cầu ái toan tăng cao và kéo dài nên nghĩ đến nhiễm KST gây bệnh nội tạng, thường gặp nhất là Toxocara spp.

Hội chứng ấu trùng di chuyển ở mắt

Triệu chứng bệnh nhân than phiền là mờ mắt, khi khám thường gặp là :

Viêm màng bồ đào, bệnh thường biểu hiện trên lâm sàng với 3 hình ảnh : viêm mủ nội nhãn nội sinh, u hạt cực sau vùng hoàng điểm hoặc giữa gai thị - hoàng điểm và u hạt ở võng mạc chu biên. Phải nghĩ đến bệnh ngay ở một trẻ viêm màng bồ đào một mắt, với hình ảnh đáy mắt có ổ tổn thương ở hoàng điểm hoặc ở võng mạc chu biên.

Hình ảnh giun đũa chó Toxocara

Ấu trùng giun đũa chó di chuyển đến mắt

Triệu chứng chính là mờ mắt, không đau, không viêm đỏ, nên khó phát hiện sớm. Chẩn đoán phân biệt đáng ngại nhất trên lâm sàng của bệnh này là u nguyên bào võng mạc, cần xác định sớm nhờ hình ảnh siêu âm và Doppler hoặc CT – Scan để có hướng điều trị thích hợp.

Viêm kết mạc : Kết mạc viêm sung huyết đỏ thường kèm ngứa, thường được bác sĩ nhãn khoa chẩn đoán là viêm kết mạc dị ứng.

Ở người lớn chủ yếu là hội chứng ấu trùng di chuyển nội tạng, bệnh ở mắt rất hiếm.

Các thể lâm sàng ở người lớn được chia theo cơ quan bị tổn thương, bao gồm các thể : Thần kinh – cơ, ngoài ra, tiêu hóa, hô hấp, giả hệ thống*, thể khác**.

* Thể giả hệ thống : Bệnh có biểu hiện tổn thương ở nhiều cơ quan, giống bệnh toàn thân.

* Thể khác : Bệnh nhân có biểu hiện thiếu máu, xanh xao, mệt, gầy ốm, công thức máu có bạch cầu ái toan tăng cao, huyết thanh chẩn đoán (+) với Toxocara. Trong các thể bệnh, thể thần kinh – cơ chiếm đa số.

Triệu chứng lâm sàng của bệnh giun đũa chó Toxocara :

Thể thần kinh – cơ (theo thứ tự tỷ lệ giảm dần): Nhức đầu, sưng đau cơ, yếu nửa người, liệt, co giật, chóng mặt, động kinh, viêm não – màng não.

Thể ngoài da : Nổi cục u dưới da, nổi mề đay, sưng phù một vùng da.

Thể tiêu hóa : Đau bụng, tiêu chảy, rối loạn tiêu hóa dễ nhầm với viêm đại tràng mạn.

Thể hô hấp : Tràn dịch màng phổi, ho kéo dài.

Trong thể thần kinh – cơ, bạch cầu ái toan trong 1/3 các trường hợp; trong khi các thể không phổ biến, bạch cầu ái toan là một triệu chứng gợi ý để cho y lệnh huyết thanh chẩn đoán KST nội tạng trong đó có huyết thanh chẩn đoán Toxocara.

5. Chẩn đoán giun đũa chó - Sán chó

Dựa vào lâm sàng

Nghi ngờ cho làm công thức máu, công thức bạch cầu, chú ý bạch cầu ái toan, tốc độ lắng máu, CRP.

Xét nghiệm đặc thù

Để loại trừ hoặc hỗ trợ cho chẩn đoán nếu có điều kiện.

Huyết thanh chẩn đoán Toxocara spp.

Lấy 1-2 ml máu đông. Sử dụng kỹ thuật ELISA với kháng nguyên ES (ngoại tiết-phân tiết) từ ấu trùng giai đoạn 2 của Toxocara canis. Kết quả dương tính khi hiệu giá kháng thể từ 1/800 trở lên, thường dương tính ở các hiệu giá 1/800, 1/1.600, 1/3.200.

6. Điều trị giun đũa chó - Sán chó

Thuốc điều trị Albendazole

Liều ở trẻ em 10mg - 15kg/ngày, chia hai lần sang chiều, uống sau ăn, thời gian điều trị 5, 10, 15, 28 ngày tùy theo biểu hiện lâm sàng. Các phác đồ điều trị bệnh Toxocara spp ở trẻ em.

Phác đồ điều trị

Thuốc

I

Albendazole

II

Albendazole + Corticoides

III

Albendazole + Corticoides + Thuốc khác*

* Thuốc khác : Thuốc điều trị riêng cho từng triệu chứng cụ thể (Thí dụ : Thuốc động kinh, kháng sinh, thuốc tim mạch…) khi bệnh nhân có những biểu hiện đi kèm.

Liều ở người lớn được đề nghị là 800 mg/ngày chia 2 lần. thời gian điều trị thay đổi tùy theo thể lâm sàng và đáp ứng thuốc của từng cá thể, tương tự như ở trẻ em.

Ivermectin

Liều 200 µm/kg liều duy nhất, uống trước hay sau ăn 2 giờ, kèm theo thuốc trị triệu chứng. Lặp lại điều trị sau thời gian khoảng 10 ngày nếu triệu chứng tái phát.

Thiabendazole

Liều 25 – 30 mg/kg/ngày x 10 – 14 ngày. Thiabendazole chỉ sử dụng cho trẻ trên 15 tuổi.

7. Phòng tránh bệnh giun đũa chó - sán chó

Trẻ em

Không cho trẻ nghịch đất, ăn đất, mút tay. Nếu không thể, chỉ nên cho trẻ chơi ở những nơi không có chó mèo lui tới. Giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ, rửa tay trước khi ăn.

Người lớn

Sau khi tiếp xúc đất nên rửa tay thật kỹ.

Rửa rau hay trái cây thật kỹ trước khi ăn.

Không nên ăn sống hay tái các món lòng heo, gà, thỏ, cừu…

Trẻ em và người lớn

Tránh tiếp xúc trực tiếp với chó mèo, đặc biệt chó mèo là con vật cưng.

Nếu không thể, nên xổ giun định kỳ cho chó mèo. Nuôi chó mèo không nên thả rong để làm giảm bớt ô nhiễm môi trường.